CỘNG ĐỒNG LUẬT HỌC

NƠI HỘI NGỘ CÁC LUẬT SƯ TƯƠNG LAI
 
IndexIndex  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng Nhập  
ĐĂNG KÍ THÀNH VIÊN,,,,, ĐĂNG NHẬP ĐỂ THẤY NỘI DUNG

Share | 
 

 Sự thay đổi của quyền giám sát tối cao của Quốc hội qua các bản hiến pháp Việt Nam năm 1946, 1959, 1980, 1992

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Nguyễn Minh Tuấn
Đại tướng

Đại tướng


Giới tính Giới tính : Nam
Cancer Goat Tuổi Tuổi : 25
Tham gia Tham gia : 21/02/2011
Bài viết Bài viết : 1723
Số tiền Số tiền : 3510
Được like : 231
School : HCM University of law
Ngành Ngành : Luật học
<b>Học lớp:</b> Học lớp: : Hình sự 34A
TÀI SẢN
Huân chương:

Bài gửiTiêu đề: Sự thay đổi của quyền giám sát tối cao của Quốc hội qua các bản hiến pháp Việt Nam năm 1946, 1959, 1980, 1992    Thu Sep 22, 2011 2:50 pm

Sự thay đổi của quyền giám sát tối cao qua các bản hiến pháp Việt Nam năm 1946, 1959,
1980, 1992:


Bản hiến pháp năm 1946:
Không trực tiếp diễn tả hoạt động giám sát của quốc hội bằng từ ‘giám sát”, nhưng thông qua hoạt động của nghị viện ta vẫn thấy được hoạt động đó của nghị viện. cụ thể là:
Kiểm tra tính hợp pháp, hợp hiến của uỷ ban do chính phủ ban hành. Điều 23 quy

định ‘…, chuẩn y các hiệp ước mà chính phủ kí với nước ngoài’, điều 36 quy định ‘ khi nghị viện không họp, ban thường vụ có quyền: biểu quyết các dự án luật của chính phủ…”
Kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp, việc thực thi pháp luật của chính phủ. Điều 36 quy
định ‘…, kiểm soát và phê bình chính phủ”. Điều 55 quy định về việc trả lời chất vấn
của các bộ trưởng đối với chất vấn của nghị viện.
Vấn đề tinh nhiệm. điều 54 quy định về vấn đề tính nhiệm của nghị viện đối với hoạt
động của các thành viên chính phủ.

Bản hiến pháp năm 1959:
Lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ “giám sát”. Đồng thời quy định rộng hơn quyền giám sát
của cơ quan mang quyền lực nhà nước cao nhất này.Cụ thể:
Khoản 3, điều 50 quy định: quốc hội có quyền: “ giám sát việc thi hành hiến pháp”
Uỷ quyền cho UBTVQH về vấn đề thực hiện quyền giám sát: khoản 6, điều 53 quy
định: UBTVQH có quyền” giám sát công tác của hội đồng chính phủ, của toà án tối
cao, viện kiểm sát nhân dân tối cao”
Điều 57 và 58 hiến pháp quy định về việc lập các uỷ ban để giúp quốc hội thưc hiện
việc kiểm tra giám sát.
Điều 71 hiến pháp quy định về việc “ hội đồng chính phủ chịu trách nhiệm và báo cáo
công tấc trước quốc hội”

Bản hiến pháp năm 1980:

Hiến pháp đặt lên cao vấn đề giám sát của quốc hội, khẳng định tập trung vai trò của hoạt đông giám sát: giám sát là một bộ phận cấu thành quyền lực của nhà nước. hiến pháp cũng quy định thêm cụ thể một số việc để thực hiện việc giám sát:
Trong việc xét hoạt động của các cơ quan, khoản 9, điều 83 quy định quyền của quốc
hội là “ xét báo cáo công tác của hội đồng nhà nước, của hội đồng bộ trưởng, của toà
án nhân dân tối cao và của viện kiểm sát nhân dân tối cao” Điều 95 quy định: “đại biểu quốc hội có quyền chất vấn hội đồng bộ trưởng và các
thành viên của hội đồng bộ trưởng, chánh án toà án nhân dân tối cao và viện trưởng
viện kiểm sát nhân dân tối cao,…”
Điều 83 quy định ”quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn: thực hiện quyền giám sát tối

cao việc tuân theo hiến pháp và pháp luật”. Những quy định của hiến pháp về quyền giám sát của quốc hội được luật tổ chức quốc hội và luật hội đồng nhà nước cụ thể hoá.

Bản hiến pháp 1992:

Về cơ bản hiến pháp năm 1992 thống nhất quan điểm với hiến pháp 1980 về vị trí, vai trò quyền giám sát của quốc hội. tuy nhêin hiến pháp 1992 đi sâu hơn về việc phân định thẩn quyền giám sát việc tuân theo hiến pháp và pháp luật cho những cơ quan nhà nước khác nhau theo tinh thần: “tập trung htoongs nhất quyền lực, nhưng có sự phân công rạch ròi giữa các cơ quan nhà nước”. Cụ thể:
Khoản 2, điều 84 hiến pháp quy định quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn: ”thực hiện

quyền giám sát tối cao việc tuân theo hiến pháp, luật và nghị quyết của quốc hội, uỷ ban thường vụ quốc hội, chính phủ, toà án nhân dân tối cao, viện kiểm sát nhân dan tối cao”.
Điều 91 quy định quyền chất vấn của đại biểu quốc hội đối với caccs cơ quan nhà
nước ở trung ương.
Khoản 9, điều 84 quy định quyền của quốc hội: “bãi bỏ các vă bản của chủ tịch nước,
uỷ ban thường vụ quốc hội, chính phủ, thủ tướng chính phủ, toà án nhân dân tối cao
và viện kiển sát tối cao trái với hiến pháp, luật và nghị quyết của quốc hội.
Khoản 5, điều 91 quy định về của uỷ ban thường vụ quốc hội trong việc giám sát hoạt
động, giám sát việc thi hành các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà
nước ở trung ương.
Trên lý thuyết quy định là vậy, thế nhưng trên thưc tế hoạt đông giám sát tối cao của
quốc hội thưc hiện ra sao?, đạt được hiệu quả gì?

Thực tế thực hiện cơ chế giám sát tối cao của quốc hội:
Hoạt động giám sát của quốc hội trong những năm qua đã đem lạị những hiệu quả
nhất định. Quốc hội đã tiến hành nhiều vấn đề chung và vấn đề cụ thể tạo ra sự chuyển biến trong việc thưc hiện nhiệm vụ của các cơ quan tổ chức, các chuyên đề do quốc hội trực tiếp giám sát tại kì họp đã được tiến hành nghiêm túc, đúng quy định của pháp luật và đã đạt được nhiều kết quả. Hoạt động giám sát của quốc hội đã góp phần tích cực trong việc tuân thủ hiến pháp, pháp luật và nghị quyết của quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của uỷ ban thường vụ quốc hội góp phần nâng cao hiệu quả hiệu lực của bộ máy nhà nước, ý thức trách nhiệm của cán bộ công chức. hội đông dân tộc và các uỷ ban của quốc hội đã đầu tư công sức, giành nhiều thời gian cho hoạt động giám sát, tập trung thực hiện các giám sát chuyên đề, giám sát tại các cuộc họp của hội đồng nhân dan và uỷ ban. Có một số đại biểu quốc hội đã tự chủ động giám sát theo chương trình, kế hoạch, đồng thời tích cực tham gia vào các đoàn giám sát của uỷ ban thường vụ quốc hội, hội đồng dân tộc và các uỷ ban của quốc hội. Nhìn chung việc tổ chức thực hiện cơ chế giám sát dần đi vào ổn định như xây dựng chương trình kế hoạch tổng hợp, báo cáo kết quả hoạt động, uỷ ban thường vụ quốc hội thực hiện tốt hơn nhiêm vụ chỉ đạo, điều hoà phối hợp hoạt động giám sát của hội đồng dân tộc và uỷ ban của quốc hội.
 Tuy nhiên, việc thực hiện chức năng, hình thức gián sát của quốc hội vẫn còn nhiều tồn
tại, hạn chế, bất cập và vướng mắc:

_ Về chức năng giám sát của quốc hội chưa thật đầy đủ, thiếu thống nhất, hiệu quả giám sát của quốc hội chưa cao, quyền giám sát trên thực tế của quốc hội, đại biểu quốc hội chưa bảm bảo

_ Về hình thức giám sát của quốc hội cơ bản vẫn dựa trên xem xét báo cáo của các cơ quan chịu sự giám sát vì vậy thông tinh nhận được chư thật sự khách quan, đầy đủ. Cán bộ ngành với địa phương còn thiếu sự phố hợp chặt chẽ để báo cáo nghiêm túc với đoàn giám sát. Những hạn chế này làm giảm hiệu quả chất lượng giám sát của quốc hội.


Vấn đề chất vấn và trả lời chất vấn. Thứ nhất, về mặt pháp lý thì thiếu cơ sở pháp lý. VD: hiện nay, luật không quy định vấn đề từ chối trả lời chất vấn, hoă cj khônng quy định chủ tịch quốc hội cắt trả lời chất vấn. thứ hai, về đối tượng chất vấn thì ngại hỏi đấu lý, phân định thắng thua mà chỉ báo cáo thành tích.

VD: tại nhiều phiên chất vấn của các kì họp, một số phần trả lời của bộ trưởng giống như là báo cáo thành tích chứ không phải là trả lời chất vấn.

Về vấn đề bỏ phiếu tín nhiệm, luật hiện tại có quy định, nhưng trên thực tế chưa có
một quy trình nào để đảm bảo cho quy định được thực hiện một cách khả thi.
_ Về hoạt động giám sát của quốc hội trong thời gian qua quá rộng, giám sát tràn lan
nhưng không có hiệu quả, việc giải quyết hậu giám sát chế tài giám sát chưa nghiêm.

Vậy để cho hoạt động giám sát của quốc hội được bảo đảm thực hiện, nâng cao hiệu
quả thì cần phải phối hợp thực hiện đồng bộ các biện pháp sau:

Cần thống nhất nhận thức về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Bảm đảm tính độc lập, tính khách quan trong việc thưc hiện quyền giám sát và
hoạt động giám sát của quốc hội


Phương thức tổ chức hoạt động giám sát và phương thức giám sát của quốc hội cần phù hợp và cần đổi mới. giám sát tối cao là quyền giám sát của quốc hội, quyền này có thể tiến hành tại các kì họp của quốc hội với các phương thức thực hiện quyền cho phù hợp với đối tượng va nội dung giám sát. Để thực hiện có hiệu quả giám sát tối cao phải sử dụng có hiệu quả và hiệu lực các phương thức:


Xem xét báo cáo của chủ tịch nước, uỷ ban thường vụ quốc hội, chính phủ, toà án tối cao, viện kiểm sát tối cao theo một quy trình chặt chẽ do luật định, phải thẩm tra, phản biện, thảo luận, tranh luận trong các cơ quan của quốc hội và đại biểu quốc hội đối với các đối tượng thuộc quyền giám sát tối cao của quốc hội


Xem xét đề nghị của các cơ quan quốc hội, đại biểu quốc hội, của các cơ quan tỏ chức và cá nhân về các văn bản quy phạm pháp luật của chủ tịch nước, uỷ ban thường vụ quốc hội, chính phủ, thủ tướng chính phủ, toà án nhân dan tối cao, viện kiểm sát nhân dân tối cao, có dấu hiệu trái với hiến pháp, luật, nghị quyết của quốc hội. phương thức này đòi hỏi từ quốc hội đến các cơ quant rung ương như: uỷ ban thương vụ quốc hội, hội đồng dân tộc, các uỷ ban của quốc hội và từng đại biểu quốc hội giữa hai kì họp phải thường xuyên thực hiện quyền giám sát trong phạm vi thẩm quyền để có những báo cáo kịp thời các đề nghị tại kì họp quốc hội.


Xem xét chất vấn và trả lời chất vấn tại các kì họp, hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn góp phần nâng cao năng lực, trình độ, trách nhiệm cuar đối tượng chịu sự giám sát của quốc hội. cần tăng thêm thời gian chất vấn và trả lời chất vấn tại các kì họp, việc chất vấn nên tiến hành thường xuyên hơn nữa trong khoảng thời gian giữa hai nhiệm kì, tăng cường và giải trình của thành viên chính phủ, các văn bản mà đại biểu quốc hội và cử tri quan tâm.


Cần xem xét lại vấn đề bỏ phiếu tín nhiệm: rút ngắn số lượng chủ thể bỏ phiếu tính nhiệm từ 20% xuống từ 10_ 5%. Bỏ phiếu tín nhiệm định kì sau mỗi lần chất vấn, họp.

Như vậy, các thành viên của chính phủ phải chịu trách nhiệm thường xuyên trước quốc hội. Đồng thời, chỉ có như vậy mới kịp thời giám sát đẻ phát hiện và giải quyết những vấn đề phát sinh. Đây là cách làm có hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng các báo cáo thẩm tra, hoạt động chất vấn
Thành lập uỷ ban điều tra lâm thời trong trương hợp cần thiết để điều tra một số vấn
đề nhất định.
Phải hệ thống hoá và cập nhật một cách thường xuyên các chính sách, chế độ mới,

cũng như thong tin cần thiết về kinh tế, chính trị, xã hội, tài chính. Để đề ra những định mức, tiêu chuẩn làm căn cứ cho thẩm tra, đánh giá, giám sát, để cung cấp cho đại biểu quốc hội và cơ quan quốc hội.

Nâng cao năng lực và đảm bảo điều kiện cần thiết cho hoạt động giám sát của quốc hội
và đại biểu quốc hội.

Tăng cường sự phối hợp và tạo dựng cơ chế phối hợp có hiệu quả giữa các cơ quan trong
hoạt động giám sát.


Coi trọng và sử dụng có hiệu quả, kết quả kiểm toán trong hoạt động giám sát của quốc hội, thiết lập một quy trình cung cấp thông tin và đánh giá thông tin hợp lý trong hoạt động giám sát.

Quốc hội với vị thế là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đại diện quyền lưc của nhân dân phải thực hiện quyền giám sát tối cao đối với mọi hoạt động của bộ máy nhà nước, nâng cao chất lượng và hiệu quả thực hiện quyền của quốc hội trong hoạt động giám sát. Đây là đòi hỏi bức xúc của nhân dân, là yêu cầu cần thiết tăng cường hiệu quả hoạt động của nhà nước. các điều kiện của giám sát phải được duy trì và phối hợp thực hiện. Việc thực hiện giám sát nâng cao tính tích cực chủ động của quốc hội trong hoạt động quản lý nhà nước,đồng thời cũng nâng cao tính trách nhiệm của bộ máy trong hoạt động quản lý nhà nước.


[You must be registered and logged in to see this image.] [You must be registered and logged in to see this image.] [You must be registered and logged in to see this image.] [You must be registered and logged in to see this image.] [You must be registered and logged in to see this image.] [You must be registered and logged in to see this image.]

....Tột đỉnh của thông minh là phải biết giả vờ thần kinh trong một vài tình huống...

[You must be registered and logged in to see this image.] [You must be registered and logged in to see this image.] [You must be registered and logged in to see this image.] [You must be registered and logged in to see this image.] [You must be registered and logged in to see this image.] [You must be registered and logged in to see this image.]
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://www.facebook.com/profile.php?id=100002082021340
 
Sự thay đổi của quyền giám sát tối cao của Quốc hội qua các bản hiến pháp Việt Nam năm 1946, 1959, 1980, 1992
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
CỘNG ĐỒNG LUẬT HỌC :: TÀI LIỆU HỌC TẬP :: Luật Hiến pháp-
Chuyển đến