CỘNG ĐỒNG LUẬT HỌC

NƠI HỘI NGỘ CÁC LUẬT SƯ TƯƠNG LAI
 
IndexIndex  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng Nhập  
ĐĂNG KÍ THÀNH VIÊN,,,,, ĐĂNG NHẬP ĐỂ THẤY NỘI DUNG

Share | 
 

 HỎI VÀ TRẢ LỜI MÔN LUẬT HIẾN PHÁP

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
Nguyễn Minh Tuấn
Đại tướng

Đại tướng


Giới tính Giới tính : Nam
Cancer Goat Tuổi Tuổi : 25
Tham gia Tham gia : 21/02/2011
Bài viết Bài viết : 1723
Số tiền Số tiền : 3510
Được like : 231
School : HCM University of law
Ngành Ngành : Luật học
<b>Học lớp:</b> Học lớp: : Hình sự 34A
TÀI SẢN
Huân chương:

Bài gửiTiêu đề: HỎI VÀ TRẢ LỜI MÔN LUẬT HIẾN PHÁP   Tue Jul 26, 2011 12:51 pm

LUẬT HIẾN PHÁP


Câu 1: Phân biệt tập quán và pháp luật.

- Tập quán: là hình thức nhà nước thừa nhận một số tập quán đã lưu truyền trong xã hội phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị nói chung thành những quy tắc xử sự chung được nhà nước đảm bảo thực hiện; tập quán là hình thành một cách tự phát ít biến đổi và có tính cục bộ.
- Pháp luật: là hệ thống do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền trong xã hội do điều kiện kinh tế xã hội quy định và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội.

Câu 2: Vì sao các nước tư bản vẫn còn tồn tại chế độ quân chủ lập hiến ?

Hình thức chính thể nhà nước tư sản là cách thức trình tự thành lập các cơ quan quyền lực tối cao và xác lập mối quan hệ giữa chúng. Hình thức chính thể của nhà nước tư sản gồm có: chính thể quân chủ lập hiến đối với chính thể quân chủ lập lại quyền lực của nguyên thủ (quốc vương, vua) được truyền lại cho người kế vị, hình thức này còn tồn tại ở một số nước tư bản như: “Anh, Nhật, Hà Lan...”. Sự tồn tại của chính thể quân chủ lập hiến ở một số nước tư sản có nguyên nhân lịch sử và chính trị của nó. Ở một số nước buổi đầu giai cấp tư sản không thể xóa bỏ ngay được chế độ phong kiến nên đành thỏa hiệp và sau đó thì quay ra sử dụng một số thể chế pháp luật để phục vụ cho lợi ích của mình. Ở chính thể quân chủ lập hiến chúng ta thấy có sự hạn chế nhất định đối với quyền lực của nguyên thủ, nó cũng có những đặc trưng của nền hiến pháp mặc dù chưa thật đầy đủ và hoàn chỉnh theo đúng nghĩa của nó. Căn cứ vào tương quan giữa vai trò của vua và của nghị viện, chúng ta thấy ở chính thể quân chủ đại nghị ở chính thể quân chủ nhị hợp quyền lực của nguyên thủ bị hạn chế trong lĩnh vực lập pháp, song lại rất rộng trong lĩnh vực hành pháp. Hình thức chính thể này hầu như thấy ở các nước tư bản phát triển như Nhật (Hiến pháp 1889 tồn tại đến 1947), Đức (theo Hiến pháp 1871) được tổ chức theo hình thức chính thể này, chính thể quân chủ đại nghị tồn tại khá phổ biến hiện nay.
Chính thể này chúng ta thấy nguyên thủ quốc gia có quyền hạn trong lĩnh vực lập pháp và trong lĩnh vực hành pháp cũng bị hạn chế mức tối đa. Nghị viện thông qua luật và nguyên thủ không được quyền phủ quyết. Chính phủ được thành lập phải dựa vào đa số trong nghị viện và chỉ chịu trách nhiệm trước nghị viện. Chính thể này hiện đang tồn tại ở Nhật (theo Hiến pháp 1947), Thụy Điển (theo Hiến pháp 1974), Anh và Bỉ...

Câu 3: Bản chất giai cấp và tính nhà nước của pháp luật.

Tính giai cấp của pháp luật thể hiện ở chỗ pháp luật phản ánh ý chí nhà nước của giai cấp thống trị, Các-Mác và Ăngghen khi nhân chủ về pháp luật tư sản đã đi đến kết luận pháp luật tư sản chẳng qua chỉ là ý chí của giai cấp tư sản được nâng lên thành luật, cái ý chí và mục đích của nó là do điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp tư sản quyết định nhờ nắm trong tay quyền lực nhà nước, giai cấp thống trị đã thông qua nhà nước để thể hiện ý chí của giai cấp mình một cách tập trung thống nhất và hợp pháp hóa thành ý chí của nhà nước. Ý chí đó được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Nhà nước ban hành và bảo đảm cho pháp luật được thực hiện vì vậy pháp luật là những quy tắc xử sự chung có tổ chức, bắt buộc đối với tất cả mọi người. Tính giai cấp của pháp luật còn thể hiện ở mục đích điều chỉnh các quan hệ xã hội. Mục đích của pháp luật trước hết nhằm điều chỉnh quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội. Vì vậy pháp luật là nhân tố để điều chỉnh về mặt giai cấp các quan hệ xã hội nhằm hướng các quan hệ xã hội theo trật tự phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị. Bản chất giai cấp là thuộc tính chung của bất kỳ kiểu pháp luật nào nhưng mỗi kiểu pháp luật có nét riêng và có biểu tượng riêng.

VD: Pháp luật chủ nô công khai quy định quyền lực vô hạn của chủ nô, tình trạng vô quyền của nô lệ. Pháp luật phong kiến công khai quy định đặc quyền, đặc lợi của địa chủ pháp luật cũng như quy định các chế tài hà khắc, dã man để đàn áp nhân dân lao động. Trong pháp luật tư bản, bản chất giai cấp được thể hiện một cách thận trọng, tinh vi dưới nhiều hình thức, nhưng thực chất pháp luật tư sản luôn thể hiện ý chí của giai cấp tư sản, là mục đích trước hết nhằm phục vụ lợi ích cho giai cấp tư sản. Pháp luật XHCN thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, là công cụ để xây dựng một xã hội mới. Trong đó mọi người đều được sống tự do, bình đẳng, công bằng xã hội được đảm bảo.

- Tính nhà nước của pháp luật : Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành, luôn phản ánh những quan điểm và đường lối chính trị của lực lượng nắm quyền lực nhà nước và bảm đảm cho quyền lực đó được triển khai nhanh rộng trên quy mô toàn xã hội. Với ý nghĩa đó nhà nước không thể tồn tại và phát huy quyền lực thiếu pháp luật và ngược lại pháp luật chỉ phát sinh, tồn tại và có hiệu lực khi dựa trên cơ sở sức mạnh của quyền lực nhà nước. Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị nhưng quyền lực đó chỉ có thể được triển khai và phát huy có hiệu lực trên cơ sở của pháp luật. Pháp luật mặc dù do nhà nước ban hành nhưng khi đã được công bố thì nó trở thành hiện tượng có sức mạnh công khai bắt buộc đối với mọi chủ thể trong đó có nhà nước nói chung và mỗi cơ quan của nó nói riêng đều phải tôn trọng pháp luật, không thể coi nhẹ càng không thể chà đạp lên nó. Nhà nước có quyền ban hành pháp luật nhưng pháp luật bên cạnh việc thể hiện bản chất giai cấp còn phản ánh những nhu cầu khách quan phổ biến của các mối quan hệ xã hội. Vì vậy nhà nước cũng không thể ban bố pháp luật một cách chủ quan, duy ý chí không tính đến những nhu cầu và tâm lý xã hội. Khi pháp luật không còn phù hợp với thực tiễn nữa thì nhà nước phải tiến hành sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ để ban hành văn bản pháp luật mới.

Câu 4: Phân biệt chính thể cộng hòa và chính thể quân chủ.

- Chính thể quân chủ: là hình thức trong đó quyền lực tối cao của nhà nước tập trung toàn bộ hay một phần trong tay người đứng đầu nhà nước theo nguyên tắc thừa kế.

° Chính thể quân chủ được chia thành chính thể quân chủ tuyệt đối và chính thể quân chủ hạn chế.
° Trong các nước quân chủ tuyệt đối người đứng đầu nhà nước là vua, hoàng đế... có quyền lực vô hạn.
° Trong các nước quân chủ hạn chế, người đứng đầu nhà nước chỉ nắm một phần quyền lực.

- Chính thể cộng hòa: là hình thức trong đó quyền lực tối cao của nhà nước thuộc về một cơ quan được bầu ra trong một thời gian nhất định.

° Chính thể cộng hòa cũng có 2 hình thức: cộng hòa dân chủ và cộng hòa quý tộc.
° Trong nước cộng hòa dân chủ quyền tham gia bầu cử để lập ra cơ quan đại diện quyền lực nhà nước được quy định về mặt hình thức pháp lý đối với các tầng lớp nông dân lao động (mặc dù trong thực tế các giai cấp thống trị của các nhà nước bóc lột thường đặt ra nhiều quy định nhằm hạn chế hoặc vô hiệu hóa quyền này của nhân dân lao động. Trong các nước cộng hòa quý tộc, quyền đó chỉ quy định đối với các tầng lớp quý tộc.

- Trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể do nhiều yếu tố tác động các hình thức chính thể cũng có những đặc điểm khác biệt. Vì vậy khi nghiên cứu hình thức chính thể của một nhà nước nhất định cần phải gắn nó với những điều kiện lịch sử cụ thể. Tất cả các nước XHCN đều có nhà nước cộng hòa dân chủ được đặc trưng bằng sự tham gia rộng rãi của nhân dân lao động vào việc thành lập các cơ quan đại diện của mình.

Câu 5: Phân biệt chính thể cộng hòa tổng thống và chính thể cộng hòa đại nghị.
- Chính thể cộng hòa tổng thống: do nhân dân bầu ra hoặc do đại cử tri bầu ra. Trong đó chính thể đứng đầu nhà nước vừa là người đứng đầu chính phủ có quyền phủ quyết các đạo luật do chính phủ đưa ra, tổng thống lập ra chính phủ mà chính phủ lại độc lập với nghị viện.
- Chính thể cộng hòa đại nghị: là do nghị viện lập ra chính phủ, kiểm tra hoạt động của chính phủ. Tổng thống do nghị viện bầu ra làm vai trò đại diện cho đất nước nhiều hơn. Tổng thống bổ nhiệm chính phủ không phải do ý mình mà là do từ đa số đại diện của Đảng liên minh các đảng có đa số ghế trong nghị viện chính phủ quản lý đất nước là cơ quan chủ yếu. Trong cơ chế chuyên chính vô sản, người đứng đầu chính phủ là thủ tướng, thực tế là nhân vật số 1 của đất nước.

Câu 6: Cơ sở đảm bảo tính thống nhất của pháp luật XHCN.


- Nói đến pháp luật là nói đến tính hệ thống thống nhất của nó. Tính hệ thống của pháp luật một mặt nói lên sự đa dạng của các loại quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong những thời điểm nhất định để điều chỉnh các loại hệ xã hội tương ứng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Mặt khác mặc dù có nhiều loại quy phạm khác nhưng tất cả đều thống nhất với nhau, bởi vì chúng đều có chung bản chất phương pháp không phải là con số cộng đơn giản các quy phạm cá biệt đơn lẻ mà là hệ thống các quy phạm đồng bộ. Nhưng cần thấy rõ rằng pháp luật XHCN có tính thống nhất cao hơn bất kỳ kiểu pháp luật nào khác bởi vì pháp luật XHCN được xây dựng trên cơ sở của quan hệ pháp luật kinh tế XHCN. Trong thời kỳ quá độ, mặc dù nền kinh tế XHCN còn có cơ cấu nhiều thành phần nhưng dưới sự hướng dẫn của nền kinh tế quốc doanh và sự điều tiết của nhà nước cùng với sự tác động qua lại của các hình thức sở hữu, nền kinh tế đó vẫn phát triển theo xu hướng thống nhất ngày càng cao. Điều đó quyết định tính thống nhất và xu hướng phát triển của pháp luật XHCN.

Câu 7: Vai trò nhà nước XHCN trong hệ thống chính trị.

Nhà nước XHCN là một bộ phận quan trọng, một mắt xích đặc biệt của hệ thống chính trị XHCN, là tổ chức quyền lực rộng lớn, người đại diện chính thức là chân chính cho ý chí lợi ích của nhân dân. Nhà nước XHCN được xem là trọng tâm của hệ thống chính trị, nó có sự liên kết tác động qua lại với tất cả các thiết chế chính trị-xã hội khác của hệ thống chính trị, nó có tác động và chi phối tới mọi tổ chức và cá nhân trong xã hội. Ở vị trí trung tâm của hệ thống chính trị, nhà nước XHCN giữ vai trò quyết định trong hệ thống chính trị. Nó quyết định bản chất, đặc trưng, quá trình tồn tại và phát triển của cả hệ thống chính trị nói chung và từng bộ phận trong hệ thống chính trị nói riêng. Nhà nước trực tiếp tổ chức và quản lý hầu như mọi mặt của đời sống xã hội. Do vậy nó có tác dụng làm xuất hiện thêm hoặc mất đi các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội khác. Trong xã hội có khả năng điều chỉnh lợi ích giữa các lực lượng chính trị xã hội trong đất nước. Vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng kể trên của nhà nước trong hệ thống chính trị XHCN được quyết định bởi nhiều nguyên nhân. Song, nguyên nhân chủ yếu nhất, tập trung nhất là 2 nhân tố sau:

- Nhà nước là biểu hiện tập trung nhất của quyền lực nhân dân.

- Nhà nước là công cụ hữu hiệu nhất để thực hiện quyền lực nhân dân.

Trong CNXH quyền lực chính trị chuyển dần thành quyền lực nhân dân. Quyền lực nhân dân bao hàm những đòi hỏi sau:

* Mọi công việc lớn, có ý nghĩa quan trọng đối với xã hội phải do nhân dân quyết định.

* Mọi thiết chế chính trị trong xã hội trực tiếp hay gián tiếp đều do nhân dân lập ra và phải hoạt động nhằm mục đích thực hiện quyền lực của nhân dân.

* Các cơ quan đại diện phải có vai trò quyết định điều được quán triệt đối với bất cứ thiết chế chính trị xã hội nào, quyền lực nhân dân có ý nghĩa nhân dân phải là chủ thể quyền lực, là người thực hiện quyền lực nhà nước XHCN, là tổ chức chính trị thể hiện tập trung nhất quyền lực nhân dân. Tất cả những quyết định do các cơ quan nhà nước đưa ra phải xuất phát từ ý chí, nguyện vọng của nhân dân.

- Nhà nước là công cụ hữu hiệu nhất để thực hiện quyền lực của nhân dân. Quyền lực của nhân dân có thể thực hiện thông qua nhiều công cụ khác dưới nhiều tính chất. Song, chủ yếu và có hiệu quả nhất là thông qua nhà nước. Vai trò to lớn của nhà nước trong việc thực hiện quyền lực nhân dân được quyết định bởi các lý do sau:

* Tập trung nhất là đại diện các tầng lớp nhân dân, các giai cấp chủ yếu trong xã hội.

* Trong toàn bộ các tổ chức hợp thành hệ thống chính trị chỉ có nhà nước mới có sức mạnh cưỡng chế toàn diện, có hiệu lực xã hội nhất.

* Nhà nước có đầy đủ các phương tiện rất cần thiết để thực hiện vai trò của mình, nhà nước có khả năng đảm bảo những nguồn tài chính, vật chất cần thiết cho bản thân và cả hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội khác; nhà nước thực hiện việc điều tiết nền kinh tế đảm bảo cho nó phát triển trong xã hội có chủ quyền, trong hệ thống chính trị chỉ duy nhất nhà nước được coi quyền lực nhân dân không chỉ trong phạm vi quan hệ chính trị trong nước mà cả trong quan hệ các quốc gia khác.



Câu 8: Vai trò của Đảng CSVN trong hệ thống chính trị.

Là một bộ phận của hệ thống chính trị. Đảng CSVN giữ vai trò lãnh đạo các hệ thống chính trị. Đảng phải chịu sự tác động của pháp luật bình đẳng với các bộ phận cấu thành khác của hệ thống chính trị
Đảng CS là lực lượng xã hội tiên tiến nhất được vũ trang bằng những quan điểm khoa học của CN Mác-Lênin. Đảng có thể vạch ra chiến lược, chính sách phát triển xã hội phù hợp với quy luật có sức thuyết phục, động viên lớn đồng thời có khả năng biến các chiến lược, các chủ trương chính sách của mình thành hiện thực.

* Bằng thực tiễn đấu tranh kiên cường của mình, bằng những hy sinh, cống hiến lớn lao cho Dân Tộc, Đảng CSVN chiếm được lòng tin của đại đa số quần chúng no ấm, chính lòng tin này đã làm cho vai trò lãnh đạo của Đảng không mang dấu ấn của sự áp đặt đối với quần chúng. Vì vậy sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị có cơ sở về tình cảm, tinh thần hết sức quan trọng mà ít có tổ chức hay phong trào xã hội nào có được.

* Là một Đảng kiên trì đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cũ, mới. Đảng CSVN tạo được một uy tín quốc tế lớn cũng như tính đoàn kết và sự giúp đỡ từ phía phong trào cộng sản và chủ nghĩa tư bản quốc tế. Điều này cũng có tác dụng lớn đối với việc khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng CSVN đối với hệ thống chính trị trong nước.

Đảng CSVN lãnh đạo hệ thống chính trị một cách toàn diện. Đảng vạch định chiến lược và mục tiêu cơ bản những đường lối chính sách phát triển kinh tế, chính trị cũng như các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Đây là hình thức lãnh đạo quan trọng nhất thể hiện rõ nhất vai trò lãnh đạo của Đảng, uy tín của Đảng phụ thuộc rất nhiều vào hình thức này. Đảng là tổ chức chính trị, phương pháp lãnh đạo của Đảng không phải là phương pháp hành chính, phương pháp lãnh đạo của Đảng là giáo dục, thuyết phục và nêu gương.

Câu 9: Đặc điểm vai trò quyền lực xã hội và quy phạm xã hội trong chế độ cộng sản nguyên thủy.

Trong xã hội cộng sản nguyên thủy đã tồn tại quyền lực và hệ thống quản lý các công việc của thị tộc. Trong chế độ cộng sản nguyên thủy quyền lực chưa tách khỏi xã hội mà nó gắn liền với xã hội, hòa nhập xã hội. Quyền lực đó do toàn xã hội tổ chức ra và phục vụ lợi ích cho cả cộng đồng thị tộc. Hội đồng thị tộc là tổ chức quyền lực tối cao nhất của thị tộc có quyền quyết định tất cả các vấn đề quan trọng của thị tộc như tổ chức lao động sản xuất, tổ chức nghi lễ tôn giáo... Hội đồng thị tộc bầu ra những người đứng đầu thị tộc như tù trưởng, thủ lĩnh quân sự... để thực hiện quyền lực và quản lý các công việc chung của thị tộc. Những người đứng đầu thị tộc có quyền lực rất lớn nhưng quyền lực của họ không dựa vào một bộ máy cưỡng chế đặc biệt mà dựa vào tập thể cộng đồng. Những người đứng đầu thị tộc không có một đặc quyền đặc lợi nào so với các thành viên trong thị tộc. Họ cùng chung sống, cùng lao động, cùng hưởng thụ như mọi thành viên khác và phải chịu sự kiểm tra của cộng đồng. Họ có thể bị bài xuất bất cứ lúc nào nếu uy tín không còn và không được tập thể cộng đồng ủng hộ nữa. Thị tộc là tế bào tổ chức cơ sở của xã hội nguyên thủy, là một cộng đồng xã hội độc lập. Tóm lại, trong xã hội cộng sản nguyên thủy đã có quyền lực nhưng đó là thứ quyền lực xã hội được tổ chức và thực hiện dựa trên cơ sở của những nguyên tắc dân chủ thực sự, quyền lực xuất phát từ xã hội và phục vụ cho lợi ích của cả cộng đồng.

Trong xã hội cộng sản nguyên thủy chưa có pháp luật nhưng đã tồn tại những quy tắc xử sự chung thống nhất đó là quy phạm xã hội thể hiện ý chí chung của tất cả mọi thành viên trong xã hội bao gồm các tập quán và các tín đồ tôn giáo. Tập quán luôn gắn liền với các quy phạm đạo đức, quy phạm tôn giáo và nhiều khi đồng nhất với chúng. Tập quán xuất hiện một cách tự phát dần dần được xã hội chấp nhận và trở thành một quy tắc xử sự chung ngoài tính chất đạo đức và xã hội. Do trình độ nhận thức kém của con người, nhiều tín đồ tôn giáo cũng được mọi người chấp nhận và nhiều khi được coi là những điểm chuẩn.

Câu 10: Sự khác nhau giữa nhà nước và tổ chức xã hội.

Nhà nước là tổ chức đặc biệt có quyền lực chính trị, có một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện chức năng quản lý đặc biệt nhằm thực hiện mục đích và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp đối kháng. Nhà nước khác với các tổ chức trong xã hội, nhà nước có các đặc điểm sau:

- Nhà nước thiết lập một quyền lực cộng đồng đặc biệt không còn hòa nhập với dân cư nữa. Chủ thể của quyền lực này là giai cấp thống trị về kinh tế và chính trị. Để thực hiện quyền lực này và để quản lý xã hội, nhà nước có một lớp người đặc biệt chuyên làm nhiệm vụ quản lý. Họ tham gia vào các cơ quan nhà nước và hình thành lên một bộ máy cưỡng chế để duy trì luật pháp. Pháp luật do nhà nước ban hành và có tính bắt buộc chung, mọi công dân đều phải tôn trọng.

- Nhà nước quy định và thực hiện việc thu thuế dưới các hình thức bắt buộc với số lượng và thời hạn ấn định trước. Vì bộ máy nhà nước gồm một lớp người đặc biệt tách rời lao động sản xuất để quản lý, bộ máy đó được nuôi dưỡng bằng nguồn tài chính lấy từ khu vực sản xuất trực tiếp. Thiếu thuế bộ máy nhà nước không thể tồn tại được. Nhưng mặt khác chỉ có nhà nước mới có độc quyền đặt ra thuế và thu thuế vì nhà nước là tổ chức duy nhất có tư cách đại diện chính thức của toàn xã hội.

Những đặc điểm trên nói lên sự khác nhau giữa nhà nước với các tổ chức xã hội khác (đồng thời cũng nói lên vị trí và vai trò của nhà nước trong xã hội có giai cấp. Địa vị của giai cấp thống trị bắt giai cấp khác phải phục tùng tùy theo ý chí của giai cấp thống trị.

- Nhà nước phân chia dân cư theo lãnh thổ thành đơn vị hành chính không phụ thuộc vào chính kiến, huyết thống, nghề nghiệp, giới tính. Việc phân chia này quyết định phạm vi tác động của nhà nước trên quy mô rộng lớn nhất và dẫn đến việc hình thành các cơ quan trung ương và các địa phương.

- Nhà nước có chủ quyền quốc gia, mang nội dung chính trị pháp lý, nó thể hiện quyền độc lập tự quyết của nhà nước về chính sách đối nội và đối ngoại không phụ thuộc vào chính sách bên ngoài. Chủ quyền quốc gia là thuộc tính không thể chia cắt được của nhà nước
- Nhà nước ban hành pháp luật và thể hiện sự quản lý bắt buộc đối với mọi công dân với tư cách là người đại diện chính thức của toàn bộ xã hội

Câu 11: Vì sao nhà nước phải quản lý xã hội bằng pháp luật ?

Vì pháp luật là cơ sở để xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước XHCN. Bộ máy nhà nước là một thiết chế phức tạp bao gồm nhiều bộ phận. Để bộ máy nhà nước hoạt động có hiệu quả đòi hỏi phải xác định đúng thẩm quyền, chức năng của mỗi cơ quan; mỗi cơ quan phải xác lập một cách đúng đắn và hợp lý mối quan hệ giữa quần chúng, phải có nhiều phương pháp và hình thức tổ chức và hoạt động phù hợp để tạo thành một cơ chế đồng bộ trong quá trình thiết lập và thực hiện quyền lực nhà nước, tất cả điều đó chỉ có thể thực hiện được khi dựa trên cơ sở vững chắc của nhà nước, nguyên tắc và quy định của pháp luật

Pháp luật bảo đảm cho việc thực hiện có hiệu quả chức năng tổ chức và quản lý kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất của XHCN. Nó sẽ không thể thực hiện nếu như không dựa vào pháp luật, chỉ có pháp luật mới mang tính đặc thù của nó mới là cơ sở đảm bảo cho nhà nước hoàn thành được chức năng của mình.

v Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật như thế nào?

- Chức năng tổ chức và quản lý kinh tế có phạm vi rộng và phức tạp bao gồm nhiều mối quan hệ, nhiều vấn đề: nhà nước cần xác lập, điều tiết và giải quyết như: hoạch định các chính sách kinh tế, xác định chỉ tiêu kế hoạch, quy định các chế độ tài chính, tiền tệ, giá cả. Toàn bộ quá trình tổ chức và quản lý từ hoạch định chính sách, đề ra kế hoạch cho tới tổ chức thực hiện trên thực tế, kiểm tra giám sát tổng kết đánh giá kết quả... đều đòi hỏi sự hoạt động tích cực của nhà nước để tạo ra một cơ chế đồng bộ thúc đẩy sự phát triển đúng hướng của nền kinh tế và tính hiệu quả thiết thực. Do tính chất phức tạp và phạm vi rộng của chức năng quản lý kinh tế, nhà nước không thể trực tiếp tham gia vào các hoạt động kinh tế cụ thể mà chỉ thực hiện việc quản lý hành chính – kinh tế.


Câu 12: Khái niệm ý thức pháp luật XHCN. Mối quan hệ giữa ý thức pháp luật XHCN và pháp luật XHCN.

v Ý thức pháp luật XHCN là tổng thể những học thuyết, tư tưởng, quan niệm, quan điểm thịnh hành trong XHCN, thể hiện mối quan hệ của con người với pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua và pháp luật phải có thể hiện sự đánh giá vì tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi xử sự của con người cũng như trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội

v Mối quan hệ: Ý thức pháp luật XHCN và pháp luật XHCN là 2 hiện tượng xã hội khác nhau, nhưng có quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau. Mối quan hệ này được biểu hiện ở những điểm sau:

- Y thức pháp luật XHCN là tiền đề trực tiếp xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật XHCN.

- Pháp luật XHCN là sự biểu hiện ý thức pháp luật, không có ý thức pháp luật XHCN phù hợp với tính chất và điều kiện cụ thể trong giai đoạn phát triển thì cũng có thể xây dựng được hệ thống pháp luật đồng bộ và phù hợp.

- Ý thức pháp luật XHCN là nhân tố thúc đẩy thực hiện pháp luật trong đời sống XHCN.

- Pháp luật XHCN được vận hành nhằm để điều chỉnh các quan hệ xã hội pháp luật theo hướng phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Nhưng mục đích điều chỉnh của pháp luật được thực hiện thông qua hành vi xử sự tự giác của công dân theo yêu cầu của pháp luật là vấn đề có ý nghĩa quan trọng nhất để pháp luật phát huy được hiệu lực.

- Ý thức pháp luật XHCN thể hiện sự nhận thức của công dân và thái độ giai cấp công nhân và nhân dân lao động, bất cứ một hệ thống pháp luật nào cũng được xây dựng thể hiện ý chí và lợi ích của giai cấp thống trị được ý thức đầy đủ sự thay đổi khách quan trong đời sống xã hội trước hết được phản ánh trong ý thức của pháp luật rồi sau đó mới thể hiện thành các quy phạm pháp luật tương ứng. Do đó ý thức pháp luật là điều kiện quan trọng để hình thành, phát triển và hoàn thiện hệ thống pháp luật

- Ý thức pháp luật XHCN cũng như hệ tư tưởng của giai cấp vô sản nói chung là tiền đề tương tác trực tiếp để giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng CS, thiết lập một trật tự xã hội mới bằng cách xây dựng một hệ thống pháp luật phù hợp với các điều kiện của XHCN, củng cố nền pháp luật XHCN, phát huy hiệu lực của nhà nước và pháp luật trong việc quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội của họ với pháp luật. Nên ý thức pháp luật càng được nâng cao thì tinh thần tôn trọng pháp luật, thái độ tự giác xử sự theo yêu cầu của pháp luật càng được đảm bảo. Vì vậy để cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh đòi hỏi phải có những biện pháp bồi dưỡng kiến thức pháp luật trong cán bộ và nhân dân, phải kết hợp giáo dục ý thức XHCN và giáo dục đạo đức XHCN.

- Ý thức pháp luật XHCN là cơ sở đảm bảo cho việc áp dụng đúng đắn các quy tắc quy phạm pháp luật

- Ý thức pháp luật giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc áp dụng pháp luật. Để áp dụng đúng đắn 1 quy phạm đòi hỏi phải có sự hiểu biết chính xác nội dung và yêu cầu của quy phạm đó, phải giải thích làm rõ sáng tỏ nội dung, ý nghĩa của quy phạm ấy. Muốn thực hiện được điều đó đòi hỏi phải nắm vững được những tình tiết thực tế của từng trường hợp. Tất cả những điều kiện đó chỉ có thể thực hiện điều kiện ý thức pháp luật của những người áp dụng pháp luật đã phát triển đầy đủ.

- Việc rèn luyện ý thức pháp luật XHCN đối với những cán bộ làm công tác xét xử là rất cần thiết và quan trọng vì quyết định của cơ quan xét xử là quyết định cuối cùng. Vì vậy thẩm phán phải là người có khả năng đánh giá chính xác tất cả những tình tiết của vụ án và giải quyết vụ án trên cơ sở pháp luật. Việc hình thành lập trường của thẩm phán phụ thuộc vào ý thức pháp luật và sự hiểu biết của họ, ý thức phổ biến nâng cao ý thức pháp luật của công dân. Việc nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật, kiên quyết ngăn chặn vi phạm pháp chế trong mức độ nhất định làm cho quan niệm, quan điểm về pháp luật XHCN được hình thành, phát triển một cách rõ nét hơn. Việc giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật sẽ là điều quan trọng để góp phần vào việc xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và tổ chức thực hiện pháp luật có hiệu quả về pháp luật XHCN.

- Pháp luật XHCN là cơ sở để củng cố, phát triển và nâng cao ý thức pháp luật XHCN.

- Trong CNXH những quy phạm pháp luật và quy phạm đạo đức đều phản ánh lợi ích của quần chúng lao động, sự tương quan giữa pháp luật và đạo đức thể hiện trong hiến pháp các nước XHCN. Nhiều điều khoản vừa là quy phạm pháp luật vừa là quy phạm đạo đức và quan điểm pháp luật của nhân dân (ví dụ như những quy phạm về nghĩa vụ bảo vệ tổ quốc, nghĩa vụ lao động,...) cả ý thức pháp luật XHCN củng cố và phát triển đạo đức XHCN.

- Ý thức pháp luật XHCN đều dựa trên đạo đức XHCN bởi mối quan hệ và tác động lẫn nhau. Ý thức pháp luật XHCN thúc đẩy sự hình thành, phát triển của pháp luật, củng cố pháp chế XHCN, mặt khác pháp luật XHCN là cơ sở để nhận biết.


Câu 13: Nội dung của pháp chế XHCN và các biện pháp tăng cường pháp chế XHCN của nước ta hiện nay.

v Nội dung:

Pháp chế XHCN là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước XHCN, là nguyên tắc hoạt động của các tổ chức chính trị-xã hội và các đoàn thể quần chúng, là nguyên tắc xử sự của công dân, pháp chế XHCN có quan hệ mật thiết với chế độ dân chủ XHCN.

v Biện pháp:

Trong giai đoạn hiện nay, củng cố và tăng cường pháp chế XHCN ở nước ta là vấn đề cấp thiết để nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nước: mở rộng dân chủ XHCN. Đại hội Đảng lần thứ VII khẳng định: “điều kiện quan trọng để phát huy dân chủ là xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường pháp chế XHCN, nâng cao trình độ dân trí, trình độ hiểu biết pháp luật và ý thức pháp luật của nhân dân.

Để củng cố và tăng cường pháp chế XHCN phải áp dụng nhiều biện pháp đồng bộ trong đó có các biện pháp cơ bản như:
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác pháp chế.

Đây là biện pháp cơ bản, bao trùm, xuyên suốt trong quá trình củng cố và tăng cường pháp chế XHCN. Sự lãnh đạo của Đảng thể hiện trước hết ở việc Đảng đề ra chiến lược toàn diện về công tác pháp chế trong từng trường hợp. Đảng đề ra phương hướng xây dựng pháp luật, giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân, đào tạo cán bộ pháp lý để tăng cường cho các cơ quan làm công tác luật, pháp chế, tổ chức lãnh đạo quần chúng cùng tham gia tích cực, chống vi phạm pháp luật. Đó là sự lãnh đạo toàn diện có ý nghĩa quyết định đối với kết quả của công tác pháp chế. Sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác pháp chế còn được thể hiện thông qua sự gương mẫu của các Đảng viên và các tổ chức Đảng ở cơ sở trong việc tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật nhà nước

- Đẩy mạnh công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật XHCN.

Pháp luật chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở của một hệ thống pháp luật ngày càng phát triển và hoàn thiện. Để có được một hệ thống pháp luật như vậy phải thường xuyên tiến hành hệ thống hóa pháp luật để phát hiện và loại bỏ những pháp luật trùng lặp, mâu thuẫn, lạc hậu, bổ sung những thiếu xót trong hệ thống pháp luật, kịp thời thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng thành pháp luật, có kế hoạch xây dựng pháp luật phù hợp với mỗi giai đoạn. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học pháp lý, kỹ thuật xây dựng pháp luật đểm đảm bảo cho hệ thống các văn bản pháp luật được mang tính khoa học và đạt trình độ kỹ thuật cao. Đối với nước ta hiện nay, điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều biến động, chưa thuần nhất thì việc xây dựng pháp luật lại càng khó khăn. Vì vậy, trong xây dựng pháp luật cần tránh 2 khuynh hướng: chủ quan, nóng vội muốn có ngay một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh dẫn đến tình trạng pháp luật không phù hợp với tình hình kinh tế xã hội. Mặt khác cũng cần tránh khuynh hướng không nhận thức đúng vai trò tích cực của pháp luật dẫn đến việc chờ đợi chậm chạp hoặc dùng các biện pháp khác để điều chỉnh các quan hệ xã hội

- Tăng cường công tác tổ chức thực hiện pháp luật

Đây là một biện pháp lớn bao gồm nhiều mặt hoạt động nhằm đảm bảo cho pháp luật được tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh, cụ thể là:

° Cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học pháp lý, tăng cường công tác giải thích pháp luật để làm sáng tỏ nội dung, ý nghĩa của quy định pháp luật

° Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền giáo dục pháp luật nhằm nâng cao sự hiểu biết và ý thức pháp luật của nhân dân.

° Chú trọng công tác đào tạo đội ngũ cán bộ pháp lý có đủ trình độ, phẩm chất chính trị và khả năng công tác để sắp xếp vào các cơ quan làm công tác pháp luật và pháp chế.

° Phải chú trọng công tác tổ chức, kiện toàn các cơ quan làm công tác pháp luật, pháp chế, xác định đúng chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ, tạo điều kiện vật chất cần thiết đảm bảo cho hoạt động của các cơ quan đạt kết quả cao.

° Trong từng thời kỳ cần tổng kết, rút kinh nghiệm kịp thời để thấy rõ những thiếu xót, nhược điểm, đề ra những phương hướng và biện pháp tăng cường hiệu lực công tác tổ chức thực hiện pháp luật.

- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật.
Đây là biện pháp nhằm đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Biện pháp này đòi hỏi phải thường xuyên tổ chức, kiểm tra hoạt động của bộ máy nhà nước, đặc biệt là hệ thống cơ quan làm công tác bảo vệ pháp luật đảm bảo cho bộ máy nhà nước hoạt động nhịp nhàng theo đúng yêu cầu của pháp luật. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không cho phép bất cứ ai được dựa vào quyền thế để làm trái pháp luật.

Câu 14: Những yêu cầu cơ bản của pháp chế XHCN và khái niệm pháp chế XHCN.

v Yêu cầu:
- Tôn trọng tính tối cao của hiến pháp và pháp luật

Đây là yêu cầu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật XHCN, tạo điều kiện cho hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, làm cơ sở để thiết lập trật tự pháp luật, củng cố và tăng cường pháp chế XHCN. Hiến pháp và luật là những văn bản pháp lý do cơ quan cao nhất của quyền lực nhà nước ban hành thể hiện một cách tập trung ý chí, lợi ích cơ bản của nhân dân lao động trên các lĩnh vực, các vấn đề quan trọng của đời sống nhà nước và đời sông xã hội. Đó là văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất, vì vậy khi xây dựng pháp luật phải dựa trên cơ sở hiến pháp và luật. Mọi quy định của các văn bản dưới luật đều phải phù hợp với hiến pháp và luật. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp không thể quy định một cách chi tiết và cụ thể để áp dụng trong mọi tình huống. Vì vậy chúng luôn đòi hỏi phải có sự cụ thể hóa của các văn bản dưới luật. Không có những quá trình tiếp theo đó những quy định của hiến pháp và luật khi đi vào cuộc sống sẽ gặp những khó khăn không thể giải quyết được, trên thực tế những văn bản dưới luật hết sức phong phú, chiếm số lớn trong hệ thống pháp luật. Nếu không thực hiện tốt yêu cầu về tôn trọng tính tối cao của hiến pháp và luật thì tình trạng tản mạn, chồng chéo hoặc mâu thuẫn trong các quy phạm pháp luật, phá vỡ tính thống nhất của hệ thống pháp luật là không thể tránh khỏi.

- Đảm bảo tính thống nhất của pháp chế trên quy mô toàn quốc.

Xuất phát từ bản chất và đặc điểm đặc thù của nhà nước và pháp luật XHCN và nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, pháp chế XHCN đòi hỏi phải có tính thống nhất về nhận thức và tổ chức thực hiện pháp luật trên quy mô toàn quốc, không chấp nhận những đặc quyền và biệt lệ vô nguyên tắc. Thực hiện tốt yêu cầu này là điều kiện quan trọng để thiết lập một trật tự, kỷ cương trong đó cơ quan cấp dưới phải phục tùng cấp trên, lợi ích của địa phương phải phù hợp với lợi ích quốc gia, mọi người có quyền tự do dân chủ nhưng phải tôn trọng quyền của chủ thể khác. Đảm bảo nguyên tắc pháp chế thống nhất là điều kiện xóa bỏ tư tưởng cục bộ, tự do vô chính phủ, đảm bảo công bằng xã hội. Tuy nhiên cũng tùy vào từng trường hợp cụ thể mà vận dụng để đưa pháp luật vào đời sống một cách có hiệu quả mà không vi phạm pháp luật và không xâm hại đến tính thống nhất của pháp chế

- Các cơ quan xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật phải hoạt động một cách tích cực, chủ động và có hiệu quả.

Pháp luật là cơ sở để củng cố và tăng cường pháp chế. Vậy đòi hỏi phải có hệ thống hoàn chỉnh và đồng bộ. Pháp luật được hình thành và phát triển theo nhu cầu khách quan cần thiết phải điều chỉnh các quan hệ xã hội. Nhưng pháp luật được xây dựng như thế nào là quá trình hoạt động chủ quan của con người. Không thể có cơ sở vững chắc để củng cố nền pháp chế nếu không chú ý đến biện pháp để đảm bảo cho các cơ quan có trách nhiệm xây dựng pháp luật có đủ khả năng và điều kiện để hoàn thiện hệ thống pháp luật

Tổ chức và thực hiện pháp luật là một mặt quan trọng của nền pháp chế. Muốn củng cố và tăng cường pháp chế thì đảm bảo cho các cơ quan tổ chức và thực hiện pháp luật hoạt động có hiệu quả, không tách rời công tác pháp chế với văn hóa và văn hóa pháp lý.

Trình độ văn hóa nói chung và trình độ văn hóa pháp lý nói riêng của các nhân viên nhà nước, nhân viên các tổ chức xã hội và công dân có ảnh hưởng tới quá trình củng cố pháp chế. Đồng thời nếu pháp chế vững mạnh sẽ thúc đẩy sự phát triển của văn hóa, nâng cao văn hóa của đông đảo nhân dân.

Một trong những yêu cầu của pháp chế XHCN phải có những biện pháp nhanh chóng và hữu hiệu để xử lý nghiêm minh và kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật, nhất là tội phạm. Nhiệm vụ của các cơ quan bảo vệ pháp luật là hết sức quan trọng, phức tạp. Vì vậy cần thiết phải chú trọng các biện pháp để đảm bảo cho các cơ quan bảo vệ pháp luật có thể hoạt động một cách tích cực và có hiệu quả. Yêu cầu này cũng đòi hỏi các tổ chức và mọi công dân phải có trách nhiệm tham gia đấu tranh chống vi phạm pháp luật, bảo vệ pháp luật XHCN.

v Khái niệm pháp chế XHCN:

Khái niệm pháp chế XHCN là một khái niệm rộng bao gồm nhiều mặt. Pháp chế XHCN là một chế độ đặc biệt của đời sống chính trị-xã hội, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, nhân viên nhà nước, nhân viên các tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để và chính xác.




Câu 15: Trình bày khái niệm và hình thức thực hiện pháp luật. Vì sao nói áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt ?

v Khái niệm: thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật

v Các hình thức thực hiện pháp luật:

- Tuân theo pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hành những hoạt động mà pháp luật ngăn cấm (ví dụ: đèn đỏ...).

- Thi hành, chấp hành pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó chủ thể thực hiện nghĩa vụ của mình bằng hành động tích cực (VD: từ 18 – 27 tuổi phải chấp hành nghĩa vụ quân sự)

- Sử dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật mà chủ thể pháp luật thực hiện hành vi của mình được pháp luật cho phép (VD: công dân có quyền được khiếu nại, tố cáo vi phạm pháp luật)

- Áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà nước tổ chức cho các chủ thể thực hiện những quy định của pháp luật hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật để tạo ra các quyết định làm phát sinh, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể.

Câu 16: Các loại văn bản quy phạm ở Việt Nam theo Hiến Pháp 1992.

Các loại văn bản quy phạm pháp luật chia làm 2 loại: các văn bản luật và các văn bản dưới luật.

- Các văn bản luật là các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, cơ quan cao nhất của quyền lực nhà nước ban hành.
Văn bản luật có các hình thức là Hiến pháp và luật.

* Hiến pháp bao gồm: Hiến pháp và các đạo luật về bổ sung (hay sửa đổi Hiến pháp) quy định những vấn đề cơ bản nhất của nhà nước, chế độ chính trị, văn hóa, xã hội, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân, hệ thống tổ chức, nguyên tắc hoạt động và thẩm quyền của các cơ quan nhà nước khẳng định những thành tựu quan trọng của quá trình xây dựng và giữ nước của dân tộc ta. Đồng thời khẳng định những định hướng quan trọng trong thời kỳ mới. Hiến pháp cụ thể hóa đường lối, chính sách của Đảng trong mỗi giai đoạn cụ thể thể hiện tập trung ý chí của giai cấp công dân và nhân dân lao động. Trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, Hiến pháp là luật cơ bản của nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất. Mọi văn bản pháp luật (từ bộ luật trở xuống) đều phải phù hợp với các quy định của Hiến pháp.

- Luật (bộ luật), nghị quyết của QH có chứa đựng những quy phạm pháp luật do QH, cơ quan quyền lực cao nhất vận hành để cụ thể hóa HP. Luật quy định các vấn đề cơ bản quan trọng thuộc về lĩnh vực đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của nhân dân.

* Các luật (bộ luật) và nghị quyết của QH có giá trị pháp lý cao (chỉ sau HP). Vì vậy khi xây dựng các văn bản dưới luật phải dựa trên cơ sở các quy định thể hiện trong văn bản luật.

- Các văn bản dưới luật: là những văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước ban hành theo trình tự thủ tục và hình thức được pháp luật quy định, những văn bản này có giá trị pháp lý thấp hơn các văn bản luật.

Theo HP 1992, hiện nay nước ta có những văn bản dưới luật sau:

* Pháp lệnh do Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành quy định về những vấn đề được QH giao. Khi xây dựng Pháp lệnh phải dựa trên cơ sở những quy định của HP và luật.

- Nghị quyết của ban thường vụ Quốc hội: được ban hành để giải thích HP, luật, pháp lệnh, giám sát việc thi hành HP, văn bản pháp luật của QH, giám sát các hoạt động của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, giám sát các hoạt động của Hội đồng nhân dân, quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh, tổng động viên, ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc từng địa phương và các vấn đề thuộc thẩm quyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

- Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước được ban hành để thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước do Hiến pháp quy định.

* Nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ... được ban hành để quyết định chính sách cụ thể về xây dựng và kiện toàn bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương đến cơ sở. Hướng dẫn, kiểm tra Hội đồng nhân dân thực hiện các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, đảm bảo việc thực hiện HP và pháp luật trong các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân, thực hiện chính sách xã hội, dân tộc và tôn giáo, các chủ trương, chính sách cụ thể về tiền tệ, văn hóa, giáo dục...

* Nghị định của Thủ tướng Chính phủ được ban hành để quyết định các chủ trương, biện pháp lãnh đạo, điều hành các hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương, quy định chế độ làm việc của các thành viên chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

* Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ quy định các biện pháp chỉ đạo, phối hợp hoạt động của các thành viên Chính phủ, đôn đốc, kiểm tra hoạt động của cán bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ.

* Quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, thủ trưởng và cơ quan thuộc Chính phủ.

* Quyết định của Bộ trưởng.

* Chỉ thị của Bộ trưởng.

* Thông tư của Bộ trưởng.

* Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và quyết định, chỉ thị, thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

- Thông tư liên tịch

* Nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp.

Trên đây là các văn bản quy phạm pháp luật nước ta theo HP 1992


Câu 17: Trình bày khái niệm, phân loại các hình thức trách nhiệm pháp lý. Vì sao nói trách nhiệm pháp lý hình sự là trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất ?

v Khái niệm: trách nhiệm pháp luật là một loại quan hệ pháp luật đặc biệt giữa nhà nước và chủ thể vi phạm pháp luật. Trong đó bên vi phạm pháp luật phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng chế nhà nước được quy định ở chế tài các quy phạm pháp luật

v Các hình thức trách nhiệm pháp lý bao gồm:

- Trách nhiệm hình sự đối với cá nhân.
- Trách nhiệm hành chính đối với cá nhân, tổ chức
- Trách nhiệm dân sự đối với cá nhân, tổ chức.
- Trách nhiệm đối với công chức nhà nước, công dân, học sinh.

v Nói trách nhiệm hình sự là trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất vì:

- Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm pháp luật của một con người có hành vi vi phạm pháp luật. Nó được đặt ra khi có hành vi nguy hiểm cho xã hội
- Trách nhiệm hình sự chỉ phát sinh khi có sự kiện pháp lý là con người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự và xâm hại đến những quan hệ xã hội.
- Trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra khi người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có lỗi và họ phải chịu trách nhiệm hình sự.
- Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm của người phạm tội đối với nhà nước.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://www.facebook.com/profile.php?id=100002082021340
 
HỎI VÀ TRẢ LỜI MÔN LUẬT HIẾN PHÁP
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
CỘNG ĐỒNG LUẬT HỌC :: TÀI LIỆU HỌC TẬP :: Luật Hiến pháp-
Chuyển đến